Những thay đổi quan trọng về chính sách thuế từ 01/07/2016

Rate this post

Từ ngày 01/07/2016, Luật sửa đổi bổ sung các Luật thuế bắt đầu có hiệu lực. Theo đó, Luật này sửa đổi, bổ sung các chính sách liên quan đến Thuế Giá trị gia tăng, Thuế Tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế. Đối với việc sửa đổi lần này, có 7 điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng liên quan đến 3 Luật, đó là:

Một là, Bổ sung các sản phẩm không phải kê khai, tính nộp thuế Giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế Giá trị gia tăng đầu vào.

Đó là sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường khi bán cho Doanh nghiệp, hợp tác xã. Quy định này có nghĩa là không phải kê khai, tính nộp thuế Giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế Giá trị gia tăng đầu vào.

Hai là, Thêm đối tượng không chịu thuế Giá trị gia tăng.

Đó là dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật. Ngoài ra, còn có sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên.

Ba là, Bổ sung quy định hoàn thuế Giá trị gia tăng.

Theo đó: Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế Giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu trở lên thì được hoàn thuế Giá trị gia tăng theo tháng, quý, trừ trường hợp đó là hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu, hàng xuất khẩu nhưng không xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan.

Như vậy, sẽ không còn trường hợp hoàn thuế đối với số thuế Giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc quý.

Ngoài ra, còn quy định: Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế Giá trị gia tăng mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án sang kỳ tiếp theo đối với trường hợp:

+ Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động.

+ Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ 01/07/2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư.

Bốn là, Giá bán ra để tính thuế TTĐB không thấp hơn tỷ lệ % do Chính phủ quy định.

Đó là đối với hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa sản xuất trong nước là giá do cơ sở nhập khẩu, cơ sở sản xuất bán ra nhưng không được thấp hơn tỷ lệ phần trăm (%) so với giá bán bình quân của bên bán hàng là đơn vị trực tiếp sản xuất hoặc nhập khẩu.

Năm là, Áp dụng biểu thuế TTĐB mới từ 01/7/2016.

Thuế suất thuế TTĐB sửa đổi lần này là sửa thuế suất của các loại xe ô tô, trong đó chủ yếu là nhóm xe ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống. Quy định thuế suất chi tiết hơn cho từng nhóm xe dưới 9 chỗ ngồi theo dung tích xi lanh từ dưới 1500 cm3 đến trên 6000 cm3. Theo đó, mức thuế suất TTĐB thấp nhất là dòng xe này dưới 1.500cm3 (Từ tháng 7/2016 đến 31/12/2017 là 40%, từ năm 2018 là 35%), đối với xe dung tích xi lanh từ 3.000 cm3 trở lên chịu mức thuế suất cao từ 90 đến 130% và đặc biệt là đối với xe có dung tích xi lanh trên 6.000 cm3 chịu mức thuế suất cao nhất là 150%.

Sáu là, Giảm thuế, miễn thuế đối với hộ gia đình có số thuế sử dụng đất phi nông nghiệp từ 50.000 đồng trở xuống.

Cụ thể, thực hiện miễn thuế, giảm thuế đối với hộ gia đình, cá nhân có số thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải nộp hàng năm từ 50.000 đồng trở xuống.

Bảy là, Tiền chậm nộp thuế giảm xuống chỉ còn 0.03%/ngày từ 01/7/2016.

Cụ thể, người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức 0.03%/ngày tính trên số tiền chậm nộp.

Đối với các khoản nợ tiền thuế phát sinh trước 01/7/2016 mà người nộp thuế chưa nộp vào ngân sách nhà nước, kể cả khoản tiền nợ thuế được truy thu qua kết quả thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền thì được chuyển sang áp dụng mức tính tiền chậm nộp theo quy định này từ 01/7/2016.

Đồng thời, chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế thuế đối với trường hợp người nộp thuế được cơ quan quản lý thuế cho phép nộp dần tiền nợ thuế trong hạn không quá 12 tháng kể từ ngày bắt đầu của thời hạn cưỡng chế thuế.

Nguồn:  Phạm Lê (Tồng Cục Thuế)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0932350835
wechat